Lượt xem: 55 Tác giả: Site Editor Thời gian xuất bản: 21-05-2021 Nguồn gốc: Địa điểm
Giới thiệu
Sự xuất hiện của bệnh vi-rút Corona 2019 (Covid-19), gây ra bởi sự lây nhiễm từ hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng chưa được biết đến trước đó là vi-rút Corona 2 (SARS-CoV-2), đã tàn phá các nền kinh tế và gây ra những thách thức chưa từng có đối với các hệ thống chăm sóc sức khỏe và thực phẩm trên khắp thế giới. Trên toàn cầu, hàng tỷ người đã được lệnh ở nhà do lệnh phong tỏa, trong khi gần ba triệu người đã chết (tính đến cuối tháng 3 năm 2021).
Chỉ số An ninh Y tế Toàn cầu (GHS)
Vào cuối đợt bùng phát Ebola xảy ra vào năm 2014, Chỉ số GHS đã được phát triển để xác định khả năng của tổng số 195 quốc gia trong việc đối phó với đợt bùng phát bệnh truyền nhiễm trong tương lai. Để đưa ra dự đoán này, Chỉ số GHS xem xét các rủi ro sinh học của mỗi quốc gia, bao gồm phân tích về địa chính trị, hệ thống y tế và khả năng kiểm soát dịch bệnh truyền nhiễm hiện tại của quốc gia đó.
Để đánh giá Chỉ số GHS của một quốc gia nhất định, họ được đánh giá về khả năng phòng ngừa, phát hiện và báo cáo, phản ứng nhanh, hệ thống y tế, tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và môi trường rủi ro.
Kể từ khi COVID-19 bùng phát, các quan chức y tế công cộng đã điều tra xem liệu Chỉ số GHS có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các quốc gia trong thời kỳ đại dịch hiện nay hay không. Trong một nghiên cứu nhằm mục đích thực hiện điều này, người ta nhận thấy Chỉ số GHS có mối tương quan tích cực với tỷ lệ mắc bệnh và tử vong liên quan đến COVID-19 ở 178 quốc gia khác nhau.
Bất chấp quan sát này, các nhà nghiên cứu này thực sự phát hiện ra rằng mối liên hệ tích cực này có giá trị hạn chế trong việc xác định khả năng đối phó với đại dịch toàn cầu của một quốc gia.
Ảnh hưởng của COVID-19 đối với các vấn đề sức khỏe khác
Đại dịch COVID-19 đã làm choáng ngợp các hệ thống chăm sóc sức khỏe trên toàn thế giới, ảnh hưởng trực tiếp đến việc chẩn đoán và điều trị các bệnh khác.
Giãn cách xã hội và phong tỏa đã làm giảm tỷ lệ chẩn đoán các bệnh truyền nhiễm như cúm theo mùa, như dự kiến khi giảm tiếp xúc xã hội.
Tuy nhiên, các cá nhân tránh tìm kiếm sự trợ giúp cho các vấn đề sức khỏe khác do lệnh đóng cửa và tránh các cơ sở y tế, dẫn đến việc chẩn đoán và điều trị giảm sút mặc dù vấn đề vẫn còn đó. Trong khi đó, ngay cả trong những trường hợp được chẩn đoán, việc điều trị các bệnh và tình trạng như ung thư trong nhiều trường hợp đã phải hoãn lại do mối đe dọa trực tiếp đến hệ thống y tế và nguồn lực của họ do dịch bệnh Covid-19 gây ra.
Nghiên cứu khoa học trên khắp thế giới cũng tập trung vào Covid-19, có khả năng làm trì hoãn các nghiên cứu và đột phá về các bệnh khác.
Hơn nữa, các bệnh truyền nhiễm khác như sốt rét, HIV và bệnh lao đã được đặt bên lề, mặc dù vẫn còn là những vấn đề rất thực tế, đặc biệt là ở những nhóm dân cư dễ bị tổn thương hơn. Một đánh giá của tổ chức Bill & Melinda Gates vào tháng 9 năm 2020 đã đánh giá dữ liệu về phạm vi bao phủ vắc xin từ giai đoạn đầu của đại dịch và đưa ra kết luận rằng phạm vi bao phủ vắc xin trong các hệ thống y tế đã bị đẩy lùi khoảng 25 năm trong 25 tuần.
Trước đại dịch, khoảng một nửa dân số thế giới không được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu và con số này đã tăng lên do đại dịch. Các hệ thống chăm sóc sức khỏe trên toàn cầu cần trở nên dễ tiếp cận hơn và cần chuẩn bị cho các sự kiện giống như đại dịch trong tương lai theo cách làm giảm tác động đến việc quản lý các bệnh khác.
Tác động sức khỏe tâm thần toàn cầu
Các đặc điểm phổ biến nhất liên quan đến loại bệnh truyền nhiễm mới COVID-19 bao gồm các triệu chứng về hô hấp bao gồm ho, sốt, các vấn đề về hô hấp và trong một số trường hợp là viêm phổi không điển hình. Ngoài hệ hô hấp, SARS-CoV-2 dường như cũng ảnh hưởng đến hệ tim mạch, tiêu hóa và tiết niệu.
Ảnh hưởng tâm lý của COVID-19
Ngoài những triệu chứng này, người ta còn quan sát thấy nhiều biểu hiện thần kinh khác nhau sau khi nhiễm SARS-CoV-2. Một số ví dụ về những biểu hiện này bao gồm hạ đường huyết, rối loạn vị giác, viêm não, viêm màng não và bệnh mạch máu não cấp tính. Có ý kiến cho rằng những tác động thần kinh này là do nhiễm trùng não trực tiếp, phản ứng tăng viêm do virus gây ra, tăng đông máu và các quá trình qua trung gian miễn dịch sau nhiễm trùng. Kết quả là, những tác động thần kinh này có thể dẫn đến một loạt các vấn đề tâm lý, từ trầm cảm, lo lắng, mệt mỏi và rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD).
Nhân viên y tế
Ngoài việc tác động trực tiếp đến bệnh nhân COVID-19, sức khỏe tâm thần của cả những người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và những người không bị nhiễm bệnh trong dân chúng nói chung cũng đã bị thay đổi đáng kể trong đại dịch.
Ví dụ, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe có nguy cơ cao bị nhiễm vi-rút cũng như các sự kiện chấn thương liên quan đến COVID-19. Hơn nữa, những nhân viên y tế phải cách ly đã được chứng minh là có nguy cơ cao hơn về các hành vi né tránh và các triệu chứng PTSD nghiêm trọng hơn so với cộng đồng nói chung.
Bởi Benedette Cuffari, ThS.
LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI